Các bệnh thường gặp ở trâu bò và tham khảo hướng điều trị

Chăn nuôi trâu bò là ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam với hơn 6 triệu con bò và 2,2 triệu con trâu (Số liệu lấy đến năm 2022) đang được nuôi trên cả nước. Tuy nhiên, bệnh tật vẫn là mối lo lớn nhất của người chăn nuôi, gây thiệt hại kinh tế nghiêm trọng hàng năm. Theo số liệu thống kê từ ngành nông nghiệp Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh ở trâu bò còn cao, cụ thể với bệnh về giun sán chiếm 30-50%, tụ huyết trùng 10-20% và viêm vú 10-15%. Hiểu rõ các bệnh thường gặp ở trâu bò, nhận biết triệu chứng sớm và biết cách phòng trị là chìa khóa giúp người chăn nuôi bảo vệ đàn và tăng hiệu quả kinh tế.

Các bệnh thường gặp ở trâu bò

Bệnh lở mồm long móng

Lở mồm long móng (FMD – Foot and Mouth Disease) là bệnh virus cấp tính, lây lan nhanh và gây thiệt hại lớn nhất trong chăn nuôi trâu, bò. Tại Việt Nam, bệnh vẫn thường xuyên bùng phát đặc biệt ở các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên.

bệnh lở mồm long móng

Bệnh do virus thuộc họ Picornaviridae gây ra với 7 tuýp huyết thanh, trong đó bò ở Việt Nam nhạy cảm với tuýp A, O và Asia 1. Virus lây truyền qua đường hô hấp khi gia súc hít phải không khí chứa virus từ vật nuôi bị bệnh ho, hắt hơi, hoặc qua đường tiêu hóa khi ăn phải thức ăn, nước bị ô nhiễm. Tiếp xúc trực tiếp giữa trâu bò bệnh cũng là con đường lây đáng lưu tâm. Đặc biệt nguy hiểm, virus có thể lây gián tiếp qua người chăn nuôi, phương tiện vận chuyển, dụng cụ chăn nuôi bị ô nhiễm.

Triệu chứng đặc trưng:

  • Sốt cao đột ngột 40-41 độ C, bò mất ăn, nhai lại ngừng hoàn toàn
  • Chảy nước miếng, nước mũi nhiều, bò há mồm, liếm môi liên tục
  • Xuất hiện bọng nước (phỏng) ở lưỡi, nướu, môi, trong miệng – vỡ ra thành vết loét đau
  • Phỏng ở móng, kẽ móng làm bò đi khập khễnh, không dám đứng
  • Phỏng ở vú làm bò mẹ đau, từ chối cho bú

Theo khuyến cáo từ các cơ quan thú y, phòng bệnh là biện pháp quan trọng nhất. Tiêm phòng vaccine FMD định kỳ 6 tháng một lần cho toàn đàn, tăng cường vệ sinh chuồng trại, hạn chế người lạ và phương tiện ra vào trang trại. Khi có dịch, cách ly bò bệnh ngay lập tức, báo cho cơ quan thú y địa phương và thực hiện khử trùng triệt để.

Hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu cho virus FMD, chỉ có thể điều trị hỗ trợ. Rửa vết loét bằng dung dịch Potassium permanganate (thuốc tím) 0.1% hoặc dung dịch Hydrogen peroxide 3% để sát trùng. Bôi thuốc kháng sinh tại chỗ như Oxytetracycline spray, Gentian violet (tím gentian) hoặc mỡ Iodine lên vết loét để phòng nhiễm trùng thứ phát. Tiêm vitamin B complex và vitamin C liều cao (5-10ml/con/ngày) để tăng cường sức đề kháng. Cho bò ăn thức ăn mềm, dễ nhai như cỏ non xắt nhỏ, cám ướt.

Bệnh tụ huyết trùng

Tụ huyết trùng (Hemorrhagic Septicemia) do vi khuẩn Pasteurella multocida gây ra, là bệnh cực kỳ nguy hiểm với tỷ lệ chết có thể lên tới 90-100% nếu không điều trị kịp thời. Bệnh thường xảy ra vào mùa mưa, thời tiết chuyển mùa hoặc khi bò bị stress.

bệnh tụ huyết trùng

Vi khuẩn lây truyền qua đường hô hấp từ bò bệnh ho, hắt hơi, hoặc qua nước uống, thức ăn bị ô nhiễm. Trâu, bò khỏe mạnh có thể mang vi khuẩn trong họng mà không bệnh, chỉ phát bệnh khi sức đề kháng suy giảm do thời tiết xấu, thiếu dinh dưỡng, vận chuyển xa.

Triệu chứng theo từng dạng bệnh:

Dạng siêu cấp tiến triển cực nhanh, gia súc có thể chết đột ngột trong 24 giờ với ít triệu chứng rõ ràng. Một số trường hợp sốt rất cao 41 – 42 độ C, hung hăng, đi loạng choạng rồi chết nhanh.

Dạng cấp là phổ biến nhất với thời gian ủ bệnh 1-3 ngày. Vật nuôi sốt cao đột ngột 40 – 42 độ C, mệt mỏi, nằm li bì, ngừng ăn và nhai lại. Triệu chứng hô hấp rất điển hình với thở nhanh, khó thở, há mồm thở, chảy nước mũi và nước miếng nhiều. Dấu hiệu đặc trưng nhất là sưng nóng cứng đau ở vùng cổ, ngực, họng do phù nề và xuất huyết dưới da, chèn ép đường thở. Một số trường hợp tiêu chảy có thể lẫn máu. Nếu không điều trị, tỷ lệ chết rất cao.

Phòng bệnh bằng tiêm vaccine tụ huyết trùng hàng năm theo khuyến cáo của thú y là biện pháp hiệu quả nhất. Tránh để gia súc bị stress, đảm bảo dinh dưỡng đầy đủ, chuồng trại khô ráo thoáng mát.

Khi phát hiện bệnh, cần điều trị ngay với kháng sinh liều cao. Theo Merck Veterinary Manual, các thuốc hiệu quả gồm Oxytetracycline 20mg/kg tiêm bắp, lặp lại sau 48-72 giờ; Penicillin G procaine 20.000-40.000 IU/kg tiêm bắp mỗi 12 giờ trong 3-5 ngày; hoặc Florfenicol 20mg/kg tiêm dưới da, lặp lại sau 48 giờ. Thuốc chống viêm như Flunixin meglumine 1-2mg/kg giúp giảm sốt và giảm phù nề. Điều trị càng sớm tỷ lệ sống càng cao. Cách ly bò bệnh, khử trùng chuồng trại và thông báo cho cơ quan thú y để kiểm soát dịch.

>>>Tham khảo sản phẩm AZ.FLODOXB

Bệnh viêm vú

Viêm vú (Mastitis) là bệnh phổ biến và gây thiệt hại kinh tế lớn ở bò sữa, làm giảm năng suất sữa 10-30% và ảnh hưởng chất lượng sữa. Theo USDA và các nghiên cứu quốc tế, viêm vú do nhiều loại vi khuẩn gây ra, phổ biến nhất là Streptococcus, Staphylococcus, E.coli và Corynebacterium.

bệnh viêm vú

Vi khuẩn xâm nhập vào vú qua lỗ núm vú, đặc biệt sau khi vắt sữa khi lỗ núm vẫn còn mở. Vệ sinh kém, sàn chuồng bẩn ướt, máy vắt sữa không sạch là nguyên nhân chính. Chấn thương vú, núm vú bị trầy xước cũng là cửa ngõ cho vi khuẩn.

Dấu hiệu nhận biết:

Dạng cấp tính có triệu chứng rõ ràng: Vú sưng to, nóng, đỏ, cứng và đau khi sờ vào. Bò từ chối cho vắt sữa, đạp người vắt vì đau. Sữa bất thường với vón cục, có mủ, máu hoặc nước vàng. Bò sốt, mệt mỏi, giảm ăn, năng suất sữa giảm đột ngột.

Dạng mãn tính có triệu chứng không rõ ràng: Vú hơi cứng, có cục nhỏ sờ thấy. Sữa đôi khi có vón nhỏ. Năng suất sữa giảm dần từ từ. Bò không sốt, ăn uống bình thường.

Phòng bệnh bằng vệ sinh là quan trọng nhất. Vệ sinh vú và núm vú bằng nước sạch trước khi vắt, lau khô bằng khăn sạch riêng cho từng con. Sau vắt ngâm núm vú trong dung dịch sát trùng chuyên dụng. Vệ sinh máy vắt sữa sau mỗi lần sử dụng. Giữ chuồng khô ráo, thay rơm lót thường xuyên. Đảm bảo dinh dưỡng đầy đủ, bổ sung vitamin và khoáng chất.

Điều trị viêm vú cần kết hợp kháng sinh đường tiêm và bơm vào vú. Kháng sinh toàn thân: Ceftiofur 1-2mg/kg tiêm bắp mỗi 24 giờ trong 3-5 ngày; Ampicillin 10-20mg/kg tiêm bắp mỗi 12 giờ; hoặc Enrofloxacin 2.5-5mg/kg tiêm dưới da mỗi 24 giờ. Kháng sinh bơm vú: Cloxacillin 200mg/núm vú, Cephapirin 200mg/núm vú, hoặc Amoxicillin 75mg/núm vú – bơm sau khi vắt hết sữa, mỗi ngày 1 lần trong 3 ngày. Massage vú nhẹ nhàng, chườm ấm giúp giảm đau. Vắt sữa thường xuyên để loại bỏ sữa bệnh, tránh ứ đọng. Lưu ý phải ngừng sử dụng sữa trong thời gian điều trị và tuân thủ thời gian ngừng thuốc theo quy định.

Bệnh đường hô hấp ở bê

Hội chứng đường hô hấp bò (BRDC – Bovine Respiratory Disease Complex) là nguyên nhân gây chết phổ biến nhất ở bê, đặc biệt sau cai sữa. Theo USDA, bệnh này gây thiệt hại hàng triệu đô la mỗi năm cho ngành chăn nuôi bò Mỹ. Ở Việt Nam, bệnh cũng rất phổ biến trong mùa lạnh.

bệnh viêm đường hô hấp bê

Bệnh thường do nhiều yếu tố phối hợp: virus (IBR, BVD, PI3), vi khuẩn (Mannheimia, Pasteurella, Mycoplasma) và yếu tố stress. Virus làm suy yếu hệ miễn dịch, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập phổi gây viêm phổi.Triệu chứng cần chú ý:

  • Bê ho, khó thở, thở nhanh, thở bằng miệng
  • Chảy nước mũi trong rồi chuyển đục, có mủ
  • Sốt 40-41 độ C, bê mệt mỏi, nằm nhiều
  • Giảm ăn hoặc ngừng ăn, giảm cân nhanh
  • Mắt đỏ, chảy nước mắt
  • Bê kéo cổ dài ra, đứng dang chân để thở dễ hơn

Theo khuyến cáo từ các chuyên gia, phòng bệnh hiệu quả nhất bằng giảm stress, cải thiện điều kiện chuồng trại với thông gió tốt, tránh ẩm ướt, tránh nuôi quá đông. Tiêm phòng vaccine phòng IBR, BVD, PI3 theo lịch. Đảm bảo bê được uống đủ sữa non trong 24 giờ đầu để có miễn dịch thụ động. Cách ly bê mới về ít nhất 2 tuần, tránh trộn bê nhiều nguồn gốc khác nhau.

Điều trị sớm là rất quan trọng với kháng sinh phổ rộng. Theo khuyến cáo từ USDA, các lựa chọn hiệu quả gồm Tulathromycin 2.5mg/kg tiêm dưới da, chỉ cần 1 liều duy nhất; Florfenicol 20mg/kg tiêm dưới da hoặc bắp, lặp lại sau 48 giờ; hoặc Tilmicosin 10mg/kg tiêm dưới da (chỉ tiêm 1 lần, không lặp lại). Thuốc chống viêm Flunixin meglumine 1-2mg/kg hoặc Meloxicam 0.5mg/kg để hạ sốt và giảm viêm. Bù nước điện giải nếu bê mất nước. Cách ly bê bệnh, giữ ấm và cho ăn thức ăn bổ dưỡng dễ tiêu.

>>>Tham khảo cặp đôi AZ.TULACIN và AZ.FLUNIXIN

Bệnh sán lá gan

Sán lá gan (Fasciolosis) do ký sinh trùng Fasciola gigantica gây ra, là bệnh ký sinh trùng phổ biến nhất ở bò Việt Nam với tỷ lệ nhiễm 30-50% đàn bò theo thống kê. Bệnh làm giảm năng suất, bò gầy yếu, năng suất sữa giảm và tỷ lệ chết thai tăng.

Vòng đời sán phức tạp, cần ốc nước ngọt làm vật chủ trung gian. Trứng sán theo phân bò ra ao, hồ nở thành ấu trùng xâm nhập vào ốc, phát triển rồi thoát ra bám vào cỏ ven ao. Bò ăn cỏ có ấu trùng sán sẽ nhiễm bệnh. Sau 3-4 tháng, sán trưởng thành ở gan và đẻ trứng, chu kỳ lặp lại.

Biểu hiện lâm sàng:

Giai đoạn cấp (2-3 tuần sau nhiễm) ít gặp, bò sốt, đau bụng, gan sưng lớn. Giai đoạn mãn tính phổ biến hơn với bò gầy yếu dần, lông xù, khô, da nhăn. Niêm mạc nhợt nhạt do thiếu máu, phù ở hàm dưới, bụng. Tiêu chảy và táo xen kẽ, bụng chướng. Năng suất giảm: bò thịt tăng trọng kém, bò sữa giảm sữa, bò sinh sản khó phối giống.

Phòng bệnh bằng kiểm soát ốc trung gian, tránh cho bò chăn thả ở vùng ngập nước, ao đầm. Nạo vét ao, hồ, làm khô và rắc vôi để diệt ốc. Uống thuốc tẩy sán định kỳ 3-4 tháng một lần, đặc biệt trước mùa mưa và sau mùa mưa. Không cho bò uống nước ao, hồ có ốc.

Điều trị bằng thuốc tẩy sán chuyên dụng với liều lượng chính xác. Theo Merck Veterinary Manual, các thuốc hiệu quả nhất gồm Triclabendazole 12mg/kg uống một liều duy nhất – đây là thuốc duy nhất diệt được cả sán non (từ 1 tuần tuổi) và trưởng thành; Closantel 10mg/kg tiêm dưới da, hiệu quả với sán trưởng thành từ 6-8 tuần tuổi; hoặc Albendazole 10-15mg/kg uống (liều cao gấp đôi so với tẩy giun thường), chỉ hiệu quả với sán trưởng thành từ 12 tuần tuổi. Sau tẩy sán cần bổ sung thuốc bổ gan, vitamin B complex và thức ăn tăng cường để bò hồi phục nhanh.

>>>Tham khảo sản phẩm ALBENZOL

Bệnh viêm móng

Viêm móng (Foot Rot) là bệnh nhiễm trùng vi khuẩn ở kẽ móng, gây đau và khập khễnh nghiêm trọng. Do vi khuẩn Fusobacterium necrophorum thường có sẵn trong đất và phân gây ra. Vi khuẩn xâm nhập qua vết trầy xước ở kẽ móng khi bò đi trên đất đá gồ ghề, sàn cứng hoặc ngâm chân lâu trong bùn nước.

bệnh viêm móng

Triệu chứng rõ nhất là trâu bò khập khễnh, đi khó khăn, thường chỉ chống 3 chân. Chân bệnh sưng nóng, đỏ ở kẽ móng và vùng móng. Có mủ chảy ra từ kẽ móng, mùi hôi thối đặc trưng. Vật nuôi sốt nhẹ, giảm ăn, nằm nhiều, không muốn di chuyển. Nếu không điều trị, nhiễm trùng lan sâu vào xương, gân gây khó điều trị và có thể phải loại thải.

Theo khuyến cáo từ các chuyên gia thú y quốc tế, điều trị sớm là rất quan trọng. Bắt vật nuôi lại, rửa sạch chân bằng nước xà phòng, loại bỏ mô chết nếu có. Bôi thuốc sát trùng tại chỗ như Iodine 5-10%, Oxytetracycline spray, hoặc bột Copper sulfate trực tiếp lên vết thương.

Kháng sinh toàn thân theo khuyến cáo từ Merck Veterinary Manual: Oxytetracycline long-acting 20mg/kg tiêm bắp sâu, lặp lại sau 48-72 giờ; Ceftiofur 2.2mg/kg tiêm bắp mỗi 24 giờ trong 3-5 ngày; hoặc Penicillin G procaine 20.000 IU/kg tiêm bắp mỗi 12-24 giờ trong 5 ngày. Thuốc chống viêm Flunixin meglumine 1-2mg/kg hoặc Ketoprofen 3mg/kg giúp bò đỡ đau và chịu đứng. Băng bó và giữ chân khô ráo, cho bò nghỉ ngơi ở chuồng sạch.

Phòng bệnh bằng duy trì chuồng khô ráo, thoát nước tốt. Thay rơm lót thường xuyên, tránh phân ứ đọng. Bồn ngâm chân có dung dịch sát trùng (sulfate đồng 5-10%, formalin 3-5%) cho bò đi qua 1-2 lần/tuần. Tỉa móng định kỳ để móng không bị quá dài. Bổ sung kẽm trong khẩu phần giúp tăng cường sức khỏe móng. Cách ly bò bệnh để tránh lây lan vi khuẩn.

>>>Tham khảo sản phẩm Sanfo.CEPTY

Bệnh tật là thách thức lớn trong chăn nuôi trâu bò nhưng hoàn toàn có thể kiểm soát nếu người chăn nuôi hiểu rõ các bệnh thường gặp và thực hiện đúng các biện pháp phòng ngừa. Phòng bệnh luôn quan trọng và hiệu quả hơn nhiều so với chữa bệnh, tiết kiệm được chi phí và công sức.

Tin tức
Ưu, nhược điểm của từng gốc thuốc khử trùng chuồng trại như nào? Hãy xem chi tiết tại đây
Ưu, nhược điểm của từng gốc thuốc khử trùng chuồng trại như nào? Hãy xem chi tiết tại đây

Nội dung tóm tắt1 Tại sao cần khử trùng chuồng trại thường xuyên?2 Các loại chất khử trùng phổ biến trong chăn nuôi2.1 1. Nhóm Clo và hợp chất chứa clo2.2 2. Nhóm Iod và Hợp Chất Iod2.3 3. Nhóm Amonium tứ cấp (QAC)2.4 4. Nhóm Phenol và Hợp Chất Phenol2.5 5. Nhóm Peroxit (Hydrogen […]

Lincomycin thú y: Các bệnh thường dùng, cách sử dụng và một số lưu ý quan trọng
Lincomycin thú y: Các bệnh thường dùng, cách sử dụng và một số lưu ý quan trọng

Nội dung tóm tắt1 Lincomycin trong thú y là gì và tại sao hiệu quả với viêm phổi?2 Các bệnh viêm phổi thường gặp cần dùng Lincomycin2.1 Viêm phổi do Mycoplasma (Mycoplasma hyopneumoniae)2.2 Viêm phổi do vi khuẩn gram dương khác3 Cách sử dụng Lincomycin thú y đúng cách3.1 Dạng tiêm3.2 Dạng pha thức ăn […]

Enrofloxacin dùng trong thuốc thú y: Những thông tin bạn cần biết
Enrofloxacin dùng trong thuốc thú y: Những thông tin bạn cần biết

Nội dung tóm tắt1 Enrofloxacin là gì?2 Cơ chế tác động của Enrofloxacin3 Các bệnh thường được điều trị bằng Enrofloxacin4 Cách sử dụng Enrofloxacin đúng cách5 Những lưu ý quan trọng khi sử dụng6 Phòng ngừa tình trạng kháng Enrofloxacin7 Một số sản phẩm Enrofloxacin của Sanfovet Enrofloxacin là gì? Enrofloxacin là một loại […]

Làm sao để dùng thuốc kháng sinh thu ý hiệu quả trong chăn nuôi
Làm sao để dùng thuốc kháng sinh thu ý hiệu quả trong chăn nuôi

Nội dung tóm tắt1 Kháng sinh thú y là gì và vai trò trong chăn nuôi2 Các nhóm kháng sinh phổ biến trong thú y3 Nguyên tắc vàng khi sử dụng kháng sinh4 Cách sử dụng kháng sinh thú y an toàn và hiệu quả5 Thời gian ngừng thuốc và an toàn thực phẩm6 Lạm […]

Khử trùng chuồng trại sau bão lũ: Làm thế nào để hiệu quả?
Khử trùng chuồng trại sau bão lũ: Làm thế nào để hiệu quả?

Sau mỗi đợt bão lũ, không chỉ con người chịu ảnh hưởng mà đàn vật nuôi cũng đối mặt với nguy cơ lớn về dịch bệnh. Môi trường ẩm ướt, nước bẩn, chuồng trại hư hại và thức ăn ôi thiu là điều kiện lý tưởng cho vi khuẩn, virus và ký sinh trùng phát […]

error: Nội dung được bảo vệ !!